This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Biến chứng do lỵ amip?

Tuy nhiên, chỉ được 2 tuần sau bệnh lại tái phát và từ đó đến nay cứ tái đi tái lại. Xin hỏi bác sĩ có phải tôi đã bị biến chứng nên chữa hoài không hết. Xin cảm ơn!

Võ Đặng Tuyến (tuyendang@gmail.com)

Lỵ amip là một trong các nguyên nhân dẫn đến viêm đại tràng mạn tính. Người lành mang mầm bệnh thải ra ngoài rất nhiều ký sinh trùng dưới dạng kén và lây nhiễm cho người khác qua đường tiêu hóa. Kén amip sống rất lâu trong môi trường tự nhiên. Ở ruột già, chúng xâm nhập thành ruột bằng cách xuyên qua niêm mạc ruột với tổn thương là những vết loét bên trong thành ruột. Dấu hiệu nhận biết lỵ amip: Đau bụng âm ỉ, kéo dài; người lừ đừ, sốt nhẹ do bị mất nước khi tiêu chảy và phản ứng với nhiễm trùng của cơ thể; tiêu phân nhầy máu, có thể từ 5-10 lần trong ngày, kèm theo mót rặn. Bệnh khởi phát âm thầm làm cho bệnh nhân không để ý đến dễ lầm lẫn với những rối loạn tiêu hóa thông thường (với tiêu chảy hoặc táo bón). Biến chứng của lỵ amip có thể gây thủng ruột, xuất huyết tiêu hóa, lồng ruột, áp-xe gan và ổ mủ ở các cơ quan khác. Trường hợp của bạn là bị viêm đại tràng do lỵ amip. Việc dùng thuốc điều trị phải tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Nếu bệnh tái phát nhiều lần cần nội soi đại trực tràng để chẩn đoán phân biệt với ung thư. Để phòng bệnh cần chú ý vệ sinh thực phẩm, ăn uống. Khi có rối loạn đi cầu, phân nhầy máu cần khám chuyên khoa tiêu hóa để chẩn đoán xác định và điều trị triệt để.

BS. Trần Quang Nhật

Robot DNA vận chuyển thuốc trong cơ thể

Robot DNA vận chuyển thuốc trong cơ thể

Các nhà nghiên cứu ở Viện Công nghệ California (Caltech) đã phát triển robot từ một chuỗi DNA đơn lẻ một ngày nào đó có thể vận chuyển thuốc trong cơ thể người.

Loại nanobot này nhỏ tới mức nó có thể nhặt và phân loại các phân tử. Dù không hẳn là một robot đúng nghĩa theo cơ điện học, nó được thiết kế giống robot truyền thống, với các bộ phận chuyển động như tay, cánh tay, chân.

Nó được lập trình giống robot, mặc dầu toàn bộ chương trình được thực hiện bằng ngôn ngữ hóa học. Khả năng phân loại và vận chuyển phân tử giúp các robot DNA mang giá trị cao trong y học.

Nó có thể tổng hợp thuốc trong mạch máu, và nó chỉ giải phóng thuốc khi nhận diện ký hiệu hóa học do một tế bào bị bệnh giải phóng ra.

NV

(theo Seeker)

Xử trí đau khi tiểu

Chứng rối loạn tiểu tiện này thường gặp ở phụ nữ nhiều hơn so với ở nam giới. Ở nam giới, người cao tuổi gặp nhiều hơn người trẻ.

Nguyên nhân gây đau khi đi tiểu

Nhiễm trùng đường tiểu: Nhiễm trùng đường tiểu là một trong những nguyên nhân chính gây đau đớn khi đi tiểu. Nhiễm trùng có thể xảy ra ở thận, bàng quang, niệu quản hay niệu đạo. Nhiễm trùng đường tiểu chủ yếu là do vi khuẩn xâm nhập ngược dòng thông qua đường niệu đạo. Có những yếu tố nhất định làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng đường tiểu bao gồm: phụ nữ, bệnh đái tháo đường, tuổi già, sỏi thận, phì đại tuyến tiền liệt, mang thai, đang đặt ống thông tiểu. Ngoài đau khi đi tiểu, nhiễm trùng đường tiểu còn có một số dấu hiệu và triệu chứng như: nhiệt độ cơ thể tăng, nước tiểu có mùi hăng hoặc hôi, nước tiểu có máu hoặc đục, đi tiểu nhiều lần.Uống 8 ly nước mỗi ngày phòng ngừa viêm đường tiết niệu.

Uống 8 ly nước mỗi ngày phòng ngừa viêm đường tiết niệu.

Nhiễm trùng âm đạo: Ở phụ nữ, đôi khi đau trong khi đi tiểu có thể liên quan đến nhiễm trùng âm đạo, kể cả nhiễm nấm âm đạo. Tuy nhiên, với nhiễm trùng âm đạo, có thể thấy triệu chứng âm đạo ra khí hư hôi.

Nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục: Các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng có thể dẫn đến đau khi đi tiểu. Một số trong các nhiễm trùng này là: nhiễm Chlamydia, mụn rộp sinh dục và lậu. Ngoài đau khi tiểu, một số dấu hiệu và triệu chứng khác của bệnh lây truyền qua đường tình dục là: nóng rát, ngứa, dịch tiết bất thường, vết loét hoặc mụn rộp vùng sinh dục.

Do kích thích và viêm: Ngoài các nhiễm trùng trên, các tình trạng khác có thể gây rối loạn tiểu tiện bao gồm: Sỏi đường tiết niệu; kích ứng đường niệu do quan hệ tình dục; viêm bàng quang; Sự thay đổi môi trường âm đạo liên quan đến mãn kinh; Do các hoạt động như đi xe đạp hoặc cưỡi ngựa; Do kích ứng âm đạo hoặc nhạy cảm do sử dụng bồn tắm hoặc một số loại xà phòng, giấy vệ sinh hoặc các sản phẩm như chất diệt tinh trùng hoặc chất tẩy; Do tác dụng phụ của một số thuốc, phương pháp điều trị và thuốc bổ sung; Ung thư tiết niệu; Viêm tuyến tiền liệt; Sau khi áp dụng một số thủ thuật đường niệu gần đây, bao gồm việc sử dụng các dụng cụ xâm nhập hệ tiết niệu để điều trị hoặc xét nghiệm; Nhiễm trùng niệu đạo.

Khi nào cần đi khám bác sĩ, nếu bị đau khi đi tiểu?

Trường hợp cần đi khám ngay là: Đau liên tục khi đi tiểu, có nhiều dịch tiết ra từ âm đạo hoặc dương vật, có máu trong nước tiểu, bị sốt, đau bên hông hoặc đau lưng, có tiền sử sỏi bàng quang hoặc sỏi thận, phụ nữ có thai.

Để chẩn đoán nguyên nhân cần khám xét tổng thể. Xét nghiệm nước tiểu để tìm và xác định vi khuẩn gây bệnh. Xét nghiệm nước tiểu nhằm đánh giá sự hiện diện của các tế bào hồng cầu, bạch cầu và các yếu tố liên quan vi khuẩn.

Nếu nghi ngờ là do viêm âm đạo, có thể tiếp tục lấy chất nhầy âm đạo để xét nghiệm tìm ra sự hiện diện của nấm hoặc các vi khuẩn gây bệnh khác.

Nếu đau khi đi tiểu là do nhiễm trùng niệu đạo, có thể kiểm tra sự hiện diện của vi khuẩn và bạch cầu với một số xét nghiệm. Nếu nhiễm trùng không phải là nguyên nhân gây ra cơn đau, các xét nghiệm khác bao gồm sỏi bàng quang hoặc đo áp suất trong bàng quang có thể hữu ích.

Xử trí đau khi tiểu

Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra đau. Thuốc kháng sinh có thể được sử dụng để điều trị viêm tuyến tiền liệt do vi khuẩn, nhiễm trùng đường tiểu và một số bệnh lây qua đường sinh dục. Đau khi đi tiểu do vi khuẩn thường nhanh đáp ứng hơn sau khi bắt đầu dùng kháng sinh.Trang phục quá chật dễ gây các vấn đề ở đường tiết niệu.

Trang phục quá chật dễ gây các vấn đề ở đường tiết niệu.

Lời khuyên của thầy thuốc

Uống một lượng đủ nước mỗi ngày để làm sạch hệ thống tiết niệu. Khuyến cáo 8-10 ly nước và chất lỏng cho mỗi ngày.

Để giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiểu, đừng cố nín tiểu. Thay vào đó, đi tiểu ngay khi bạn cảm thấy muốn đi tiểu.

Tránh ăn các thức ăn nhiều đường và nhiều gia vị. Chúng có thể gây kích thích bàng quang, gây đau co rút vùng chậu và cũng làm gánh nặng lên bàng quang và thận của bạn.

Tránh uống quá nhiều rượu và đồ uống có chứa caffeine như cà phê và trà. Chúng có thể gây kích ứng bàng quang và thúc đẩy mất nước cơ thể.

Thực hành vệ sinh cá nhân: Sau khi đi tiểu, phụ nữ nên làm khô khu vực sinh dục ngoài theo hướng từ trước ra sau để tránh xâm nhập mầm bệnh vào đường niệu. Bạn nên thay băng vệ sinh thường xuyên và theo khuyến cáo trong chu kỳ kinh nguyệt.

Không sử dụng các sản phẩm như dầu, xà phòng hoặc bột talc xung quanh bộ phận sinh dục ngoài vì có thể dẫn đến kích ứng đường tiểu.

Luôn đi tiểu sau khi quan hệ để loại bỏ vi khuẩn từ niệu đạo. Không mặc quần áo quá chật.

BS. Thanh Hoài

Nọc độc kiến có thể điều trị bệnh vẩy nến

Hợp chất này có tên solenopsin - có vai trò quan trọng trong lớp biểu bì - hỗ trợ chức năng rào cản của da bằng cách giữ ẩm và bảo vệ các tế bào khỏe mạnh. Theo Giáo sư chuyên khoa da liễu Jack Arbiser - Trường Y Emory: Các nhà nghiên cứu đã phát triển solenopsin thành một thành phần của kem dưỡng da và được sử dụng cho những con chuột thí nghiệm bị vẩy nến trong vòng 28 ngày. Kết quả cho thấy những con chuột sử dụng kem có solenopsin giảm 30% triệu chứng bệnh vẩy nến so với nhóm đối chứng vì kem này giúp giảm sự sản sinh của các tế bào viêm, thúc đẩy sản xuất các tế bào chống viêm. GS. Arbiser cho biết: “Chúng tôi tin rằng hợp chất solenopsin góp phần phục hồi đầy đủ chức năng da, làm dịu da và ngăn ngừa các triệu chứng của bệnh vẩy nến”.

Quốc Tuấn

((Theo NA, 9/2017))

Thương hàn, bệnh dễ mắc sau lũ lụt

Một trong những bệnh lý nguy hiểm đó là bệnh thương hàn. Việc phát hiện bệnh sớm sẽ làm giảm các biến chứng, tỷ lệ tử vong mà còn góp phần hữu hiệu nhằm ngăn chặn việc phát sinh và lan tràn của các dòng vi khuẩn kháng kháng sinh.

Biểu hiện của bệnh thương hàn

Thương hàn là một bệnh cấp tính toàn thân lây truyền qua đường tiêu hóa, để lại bệnh cảnh não nề, có thể gây thành dịch. Tổ chức Y tế Thế giới đặt thương hàn vào loại bệnh truyền nhiễm quan trọng, bệnh lây lan nhiều nhất ở độ tuổi từ 5 - 19 tuổi. Người bị bệnh do ăn uống phải thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn. Khi vi khuẩn gây bệnh xâm nhập cơ thể sẽ gây ra triệu chứng sốt, đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, nhịp tim chậm, khoảng 25% có nốt hồng ban trên cơ thể. Người bệnh đau bụng, nôn, táo bón hoặc tiêu chảy, phân đen hoặc có máu. Bụng trướng, có dấu hiệu óc ách hố chậu phải. Tất cả mọi người đều có thể bị cảm nhiễm vi khuẩn gây bệnh thương hàn. Thời kỳ ủ bệnh phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn xâm nhập, có thể từ vài ngày tới vài tháng, nhưng thông thường từ 1-3 tuần. Khi theo thức ăn vào đường tiêu hóa, vi khuẩn xuyên vào thành ruột, sau đó lan tỏa theo hệ thống bạch huyết. Từ đây chúng xâm nhập hệ thống hầu hết các cơ quan trong cơ thể. Vi khuẩn vào máu gây nhiễm khuẩn huyết rồi nhiễm khuẩn khu trú chủ yếu ở hạch lympho của ruột non. Tổn thương gây các mảng payer viêm và có thể bị loét nặng, nhất là sau 3 tuần bị bệnh. Vi khuẩn có thể đến phổi, túi mật, thận và hệ thần kinh trung ương. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như chảy máu ruột, thủng ruột do các vết viêm loét ở hạch payer hoặc bị rối loạn chức năng não và dễ gây ra tử vong.Vệ sinh môi trường sau lũ lụt để phòng ngừa bệnh thương hàn và các bệnh khác.

Vệ sinh môi trường sau lũ lụt để phòng ngừa bệnh thương hàn và các bệnh khác.

Thủ phạm gây bệnh

Thủ phạm gây ra bệnh thương hàn chính là vi khuẩn salmonella typhi. Salmonelleae thuộc họ Enterobacteriaceae với chỉ một dòng duy nhất là Salmonella và được lấy từ tên nhà khoa học người Mỹ, D.E. Salmon. Đây là trực khuẩn Gram (-), hiếu khí tùy nghi di động.

Salmonella xâm nhập cơ thể qua đường miệng và hầu hết là do ăn phải thức ăn bị nhiễm như thực phẩm, nguồn nước... Sau khi xuyên qua hàng rào acid dạ dày, vi khuẩn di động về phía ruột non và sinh sản ở đó, tiếp tục chui qua màng nhày vào thành ruột và đi vào máu. Vi khuẩn sẽ được chuyên chở bởi những tế bào bạch cầu ở gan, lách và tủy xương. Khi đó vi khuẩn sẽ sinh sôi nảy nở trong tế bào của những cơ quan này và quay lại dòng máu. Vi khuẩn xâm nhập vào túi mật, hệ thống ống mật và mô limpho trong ruột. Tại đây, chúng sinh sôi nảy nở với số lượng lớn. Bệnh thương hàn là do lây truyền qua đường ăn uống bởi nước hay thức ăn bị nhiễm. Bệnh nhân bị bệnh cấp tính có thể lây ra môi trường nước xung quanh qua phân, ở giai đoạn cấp các chất thải (phân) có chứa nồng độ vi khuẩn rất cao.

Một số bệnh nhân bị bệnh nhẹ, có thể họ không nhận biết được. Những người này về lâu dài có thể trở thành người lành mang trùng. Vi khuẩn thương hàn sinh sôi trong túi mật, ống mật hay trong gan và đi vào trong ruột, chúng có thể sống sót vài tuần trong nước hay chất thải khô. Những người mang trùng mạn tính này thường không có triệu chứng và là nguồn lây bệnh sốt thương hàn trong nhiều năm.

Điều trị thế nào?

Khi vi khuẩn Salmonella vào trong ruột, nó có thể được chẩn đoán bằng cách lấy phân đem đến phòng xét nghiệm để cấy. Một xét nghiệm khác là xét nghiệm Widal giúp phát hiện và lượng giá kháng thể của vi khuẩn thương hàn trong máu và trong nước tiểu.

Bệnh thương hàn được điều trị bằng kháng sinh nhằm tiêu diệt vi khuẩn Salmonella. Lựa chọn kháng sinh điều trị thương hàn phải là những thuốc kháng sinh đặc hiệu với Salmonella như ceftriaxone, ciprofroxaxine, pefloxaxine… các thuốc này có tính chất khuếch tán đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Bên cạnh điều trị kháng sinh phải chú ý đến cân bằng điện giải, chế độ dinh dưỡng hợp lý (những trường hợp nhịn ăn khi có xuất huyết tiêu hóa nặng hoặc nghi ngờ thủng ruột), điều trị triệu chứng và các biến chứng kèm theo.

Trước khi sử dụng kháng sinh, tỉ lệ tử vong của bệnh là 10%. Tử vong xảy ra là do vi khuẩn thương hàn gây viêm phổi, xuất huyết tiêu hóa (chảy máu đường ruột) hay thủng ruột.

Lời khuyên của thầy thuốc

Để phòng bệnh thương hàn hiệu quả và kịp thời, cần thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt, kiểm tra chặt chẽ các quy định xử lý chất thải. Cách ly bệnh nhân mắc bệnh thương hàn khi hết triệu chứng và kết quả phân lập vi khuẩn 3 lần cách nhau 24-48 giờ âm tính.

Trong vùng có nhiều người mắc bệnh, vùng bị lũ lụt ô nhiễm môi trường nặng cần được sát khuẩn bằng dung dịch chloramin B, vôi bột. Ở những nơi bệnh thương hàn thường xuyên xảy ra nên tiêm phòng bằng vắc-xin, tùy từng hiệu lực của từng loại vắc-xin có thể tiêm nhắc lại sau 2 đến 5 năm.

BS. Lê Thị Hương

Điều thú vị: Đã xác định 8 loại gen có thể gây ra mất ngủ

Thực tế có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ, từ môi trường (như tiếng ồn xung quanh, trẻ nhỏ hoặc công việc đánh thức bạn giữa đêm), stress sau một sự kiện đau buồn đến di truyền.

Song các nghiên cứu trước đây đã xác định các gen liên quan tới một số rối loạn giấc ngủ như chứng ngủ rũ và ngừng thở khi ngủ nhưng nghiên cứu Biobank (Anh) là nghiên cứu đầu tiên liên quan tới mất ngủ. Hơn 112.500 người trưởng thành sống tại châu u có tình trạng mất ngủ, rối loạn giấc ngủ và buồn ngủ quá mức giữa ban ngày đã tham gia vào nghiên cứu. Các nhà khoa học đã phân tích gen cũng như xem xét cân nặng và các bệnh khác hoặc bệnh mạn tính của các đối tượng.

Điều thú vị kết quả là đã định danh được 8 gen cụ thể liên quan tới mất ngủ hoặc buồn ngủ quá mức giữa ban ngày. Tất nhiên những biểu hiện mất ngủ hay buồn ngủ quá mức giữa ban ngày còn do không ngủ đủ hoặc các rối loạn giấc ngủ khác, tác dụng phụ từ việc dùng thuốc hoặc do một căn bệnh tiềm ẩn.

Cụ thể, các gen này liên quan với cả mất ngủ và hội chứng chân không nghỉ, kháng insulin và trầm cảm. Những gen liên quan tới những người ngủ kém hơn có thể kèm nguy cơ tâm thần phân liệt. Và những gen liên quan tới buồn ngủ quá mức giữa ban ngày có liên quan với béo phì.

Đồng tác giả nghiên cứu và là trợ lý giáo sư gây mê ở Bệnh viện đa khoa Massaschusetts và Trường Y Harvard cho biết: “Trước đây, những rối loạn giấc ngủ được cho là có thể xuất hiện đồng thời với nhiều bệnh, nhưng chúng ta không biết có một số gen chung góp phần vào cả những rối loạn giấc ngủ và những bệnh này”.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa tất cả những người bị rối loạn giấc ngủ có nguy cơ cao hơn bị hội chứng chân không nghỉ, tâm thần phân liệt hoặc béo phì. Bởi có khả năng có nhiều gen khác góp phần vào rối loạn giấc ngủ và các bệnh này mà hiện nay các nhà khoa học chưa phân lập được.

Các nhà nghiên cứu hy vọng có thể thiết kế và thử nghiệm các loại thuốc nhằm vào những gen này.

Bs. Hoàng Xuân Đại

Chế phẩm sinh học đầu tiên điều trị ung thư

Đây cũng là thuốc sinh học đầu tiên được chấp thuận ở Mỹ để điều trị bệnh này.

Cách sử dụng để điều trị từng loại ung thư được ghi trên nhãn thuốc. Các chuyên gia chăm sóc sức khỏe cần đọc kỹ nhãn này để biết thông tin chi tiết về các sử dụng được chấp thuận.

Các sản phẩm sinh học thường có nguồn gốc từ một sinh vật sống và có thể đến từ nhiều nguồn như người, động vật, vi sinh vật hoặc nấm men. Một sản phẩm sinh học được phê duyệt dựa trên dữ liệu cho thấy nó tương tự như một sản phẩm sinh học đã được chấp thuận, đáp ứng các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật và không có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt lâm sàng về độ an toàn, độ tinh khiết và hiệu lực.

Tác dụng phụ thường gặp của Mvasi bao gồm chảy máu mũi, nhức đầu, tăng huyết áp, viêm mũi, thay đổi vị giác, da khô, xuất huyết, rối loạn nước mắt, đau lưng và kích ứng da. Nghiêm trọng hơn là hình thành cục máu đông, các vấn đề về chức năng não, protein niệu, nguy cơ thủng dạ dày-ruột… Bệnh nhân nên ngừng sử dụng Mvasi nếu những phản ứng phụ này trở nên nghiêm trọng hoặc đe dọa đến tính mạng.

Bảo Lâm

((Theo FDA, 9/2017))